ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH HỌC – TỪ TRUYỀN THỤ KIẾN THỨC ĐẾN PHÁT TRIỂN TƯ DUY NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SINH HOẠT CỤM CHUYÊN MÔN SỐ 5 MÔN SINH HỌC – NĂM HỌC 2026 - 2027
-----
Thực hiện kế hoạch số 01/KH-CCM5 ngày 23/9/2026 của Cụm CM số 5 về kế hoạch tổ chức SHCM cụm số 5; Căn cứ Kế hoạch giáo dục của trường THPT Trưng Vương năm học 2026-2027; Ngày 30/10/2026 nhóm Sinh học Trường THPT Trưng Vương đã thực hiện nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả sinh hoạt chuyên môn nghiên cứu bài học và chất lượng giáo dục mũi nhọn, bồi dưỡng học sinh giỏi. Sinh hoạt chuyên môn Cụm chuyên môn số 5 môn Sinh học với chủ đề: “Bài 3: Điều hòa biểu hiện gene - Sinh học 12”.

Hình 1. Tập thể giáo viên chụp ảnh lưu niệm sau buổi sinh hoạt chuyên môn Cụm số 5 môn Sinh học.
Về dự và chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn có đồng chí Lương Anh Đức – Phó trưởng phòng Giáo dục Trung học - giáo dục Phổ thông, đồng chí Nguyễn Anh Dũng – Chuyên viên phòng Giáo dục Trung học - giáo dục Phổ thông về dự và chỉ đạo công tác chuyên môn.

Hình 2. Đồng chí Lương Anh Đức – Phó trưởng phòng Giáo dục Trung học - giáo dục Phổ thông về dự và chỉ đạo công tác chuyên môn tại Trường THPT Trưng Vương.
Về phía nhà trường có đồng chí Nguyễn Thị Thu Hiền – Bí thư chi bộ - Hiệu trưởng trường THPT Trưng Vương phát biểu và chỉ đạo.

Hình 3. Đại diện nhà trường đồng chí Nguyễn Thị Thu Hiền – Bí thư chi bộ - Hiệu trưởng trường THPT Trưng Vương phát biểu trong chương trình sinh hoạt chuyên môn.

Hình 4. Đại biểu, giáo viên tham dự buổi sinh hoạt chuyên môn Cụm số 5 môn Sinh học.
Mục đích của buổi sinh hoạt chuyên môn là tạo điều kiện cho giáo viên trao đổi, chia sẻ, kinh nghiệm thiết kế bài dạy, thiết kế các hoạt động dạy học, cũng như các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học “Bài 3: Điều hòa biểu hiện gene ” ; trao đổi cách thức tổ chức SHCM theo NCBH hiệu quả, thiết thực.
Mở đầu chương trình hội thảo là video AI giới thiệu về nội dung trao đổi chuyên môn và cô giáo Đỗ Thị Phương – Giáo viên môn Sinh học trường THPT Trưng Vương chia sẻ phương pháp và kỹ thuật dạy học Bài 3: “Điều hòa biểu hiện gene” với hướng tiếp cận nội dung kiến thức: Khái quát hóa vấn đề giúp học sinh hiểu rằng điều hòa biểu hiện gene chính là cách tế bào 'tiết kiệm năng lượng' và 'đúng thời điểm' (tế bào không tổng hợp tất cả các protein cùng một lúc mà bật/tắt tùy theo nhu cầu môi trường và sự biệt hóa tế bào). Cô Đỗ Thị Phương đã sử dụng rất nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực như:
- Kỹ thuật 'Mảnh ghép' kết hợp Trạm học tập: Chia lớp thành 4 nhóm chuyên gia tìm hiểu về từng thành phần trong cơ chế điều hòa biểu hiện của operon lac, sau đó tái lập nhóm mới để hoàn thiện bức tranh tổng thể về cơ chế hoạt động.
- Sử dụng công nghệ số và công nghệ AI: Giao bài cho hs thiết kế các video mô phỏng thí nghiệm và xây dựng mô hình cấu trúc và cơ chế điều hòa biểu hiện của gene.
- Sử dụng mô hình trực quan và hoạt động đóng vai (Role-playing): Tổ chức cho học sinh đóng vai các thành phần (RNA polymerase, protein ức chế, lactose, operator) để mô phỏng quá trình operon lac 'bật' và 'tắt'
.png)
Hình 5. Giáo viên Đỗ Thị Phương trình bày, trao đổi chuyên đề và định hướng đổi mới dạy học Sinh học.
Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm tại lớp 12A4 và 12A11 với năng lực học tập khác nhau, cô đã phân tích, theo dõi học sinh và phân tích phiếu học tập, thấy được nhưng ưu điểm của phương pháp và kĩ thuật dạy học đã giúp học sinh hợp tác nhóm làm việc tại nhà hiệu quả, thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập tại lớp, có kĩ năng sử dụng công nghệ số và công nghệ AI. Học sinh rất hào hứng khi xem video mô phỏng, lớp học sôi nổi.
Tuy nhiên, do nội dung kiến thức trừu tượng, khó hình dung: Các quá trình diễn ra ở cấp độ phân tử học sinh không thể nhìn thấy bằng mắt thường, dễ dẫn đến tình trạng thiếu thời gian hoàn thành nhiệm vụ, các nhóm chuyên gia phối hợp chưa tốt. Học sinh thường hay lẫn lộn giữa vùng khởi động (Promoter - P) với gene điều hòa (lacI), hoặc không hiểu rõ vì sao khi có lactose thì protein ức chế lại bất hoạt…
Từ thực tiễn giảng dạy, cô Đỗ Thị Phương tiếp tục chia sẻ những kinh nghiệm đề hoàn thiện kế hoạch dạy học như chọn nhóm đóng vai giao nhiệm vụ trước, cần nhấn mạnh các kiến thức trọng tâm như “CÓ lactose – gene CÓ hoạt động và KHÔNG CÓ lactose – gene KHÔNG CÓ hoạt động”. Cần vấn đáp đột xuất nhiều hơn tại lớp để phát hiện học tập theo nhu cầu đam mê để có hướng tiếp cận học sinh tốt hơn. Từ đó, chỉnh sửa, hoàn thiện kế hoạch dạy học để lưu vào kho học liệu số của nhóm, sẵn sàng chia sẻ cho các đồng nghiệp cùng khối.
Đặc biệt, trong quá trình giảng dạy, cô giáo Nguyễn Thị Hoa – Giáo viên môn Sinh học trường THPT Trưng Vương đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để thiết kế các trò chơi học tập môn Sinh học. Nhằm tạo hứng thú và tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh. Các trò chơi được giáo viên tự thiết kế xây dựng dựa trên các nền tảng số (Blooket, Worlwall,…). Nội dung trò chơi gắn liền với kiến thức trọng tâm của bài học như: Các vận hành operon lac, phân biệt các thành phần trong operon lac… Qua đó, học sinh vừa củng cố kiến thức, vừa phát triển tư duy, khả năng hợp tác và kỹ năng sử dụng công nghệ số. Các trò chơi đã tạo không khí lớp học sôi nổi, tăng tính tương tác, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn và chủ động hơn trong học tập.

Links game: https://variable-brown-81ijgdfx.edgeone.dev/
Những khó khăn, vướng mắc thường gặp khi giảng dạy, trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, việc làm sao để truyền tải những kiến thức mang tính trừu tượng cao của Sinh học phân tử một cách sinh động, gắn liền với thực tiễn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) là một thách thức không nhỏ. Cô giáo Lê Thị Tươi – Giáo viên môn Sinh học trường THPT Trưng Vương đã tiếp tục tổ chức thảo luận chuyên môn với định hướng: Chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển tư duy nghiên cứu khoa học cho học sinh. Rèn luyện cho học sinh năng lực đọc tài liệu khoa học, phân tích sơ đồ cơ chế điều hòa operon lac, và tư duy logic thay vì chỉ học thuộc lòng lý thuyết.
Thông qua nội dung bài học về cơ chế điều hòa hoạt động của operon lac, cô Lê Thị Tươi chú trọng rèn luyện cho học sinh các năng lực thiết yếu của người học trong thời đại mới: đọc hiểu tài liệu khoa học, phân tích sơ đồ cơ chế, nhận diện mối quan hệ giữa các thành phần tham gia điều hòa hoạt động gene, giải thích bản chất của từng quá trình và vận dụng tư duy logic để giải quyết các tình huống học tập. Thay vì chỉ ghi nhớ các khái niệm, học sinh được định hướng tìm hiểu vấn đề, đặt câu hỏi, phân tích dữ liệu, lí giải cơ chế và chủ động xây dựng kiến thức.

Hình 6. Giáo viên Lê Thị Tươi trình bày, trao đổi chuyên đề và định hướng đổi mới dạy học Sinh học.
Một điểm nhấn nổi bật trong hoạt động dạy học của cô Lê Thị Tươi là việc khai thác hiệu quả công nghệ số và các công cụ hỗ trợ thiết kế hình ảnh, trí tuệ nhân tạo (AI). Từ những trang sách giáo khoa với nhiều nội dung chữ và sơ đồ mang tính khái quát, cô đã chuyển hóa thành hệ thống hình ảnh trực quan, sinh động, có tính khoa học và học thuật cao. Các thành phần của operon lac, mối tương tác giữa protein ức chế, vùng vận hành, vùng khởi động, các gene cấu trúc và vai trò của lactose được thể hiện bằng hình ảnh, màu sắc, mối liên hệ và diễn biến logic rõ ràng. Nhờ đó, những cơ chế vốn khó hình dung trở nên gần gũi, dễ tiếp cận hơn. Hình ảnh không đơn thuần là phương tiện minh họa mà trở thành công cụ tư duy, giúp học sinh quan sát, phân tích, kết nối thông tin và từng bước khám phá bản chất khoa học của kiến thức, đồng thời giúp học sinh hình thành năng lực tự học, năng lực tìm kiếm, xử lí và đánh giá thông tin khoa học.
Chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi phương pháp giảng dạy, các giải pháp dạy học mũi nhọn, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, có tác động tích cực tới công tác tự bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, đảm bảo tính thiết thực, hiệu quả. Thầy Phan Quốc Anh – Tổ trưởng tổ Hóa Sinh trường THPT Trưng Vương cho thấy việc ứng dụng AI không nhằm thay thế vai trò của người thầy hay làm giảm yêu cầu tư duy của học sinh, mà được sử dụng như một công cụ hỗ trợ thiết kế học liệu, trực quan hóa kiến thức và mở rộng không gian khám phá khoa học. Giáo viên vẫn giữ vai trò định hướng, kiểm chứng tính chính xác của thông tin, tổ chức hoạt động học tập và khơi gợi tư duy phản biện; học sinh là chủ thể tích cực trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.

Hình 7. Giáo viên Phan Quốc Anh báo cáo chuyên đề, chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ số và AI trong dạy học.
Thầy Phan Quốc Anh đã biên soạn và chia sẻ tập tài liệu: “Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học mũi nhọn, đổi mới phương pháp và tổ chức sinh hoạt chuyên môn qua bài “Điều hòa biểu hiện gene” thầy đã cung cấp những kiến thức khoa học chuyên sâu về điều hòa âm tính cũng giải thích tường tận các thuật ngữ khoa học bản chất của từng thành phần và cơ chế điều hòa hoạt động của gene ở vi khuẩn E.coli. Thầy đã xây dựng hệ thống câu hỏi vận dụng, vận dụng cao kèm theo hướng dẫn phân tích và lời giải chi tiết, giúp giáo viên có thêm tư liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy, đồng thời hỗ trợ học sinh giỏi từng bước hình thành phương pháp tiếp cận, phân tích và giải quyết những bài tập có tính phân hóa cao.
Thay vì yêu cầu học sinh ghi nhớ một loạt thuật ngữ sinh học phân tử khô khan, thầy đã xây dựng hình tượng operon lac như một KHU CÔNG NGHIỆP KHÉP KÍN, trong đó mỗi thành phần sinh học được gắn với một vị trí, một chức năng cụ thể trong hoạt động của nhà máy:
- RNA Polymerase – Vị khách VIP: Người thực hiện nhiệm vụ đi vào nhà máy, khởi động dây chuyền sản xuất RNA.
- Lactose (chính xác hơn là allolactose – chất cảm ứng) – Tấm vé thông hành: Giúp vô hiệu hóa sự kiểm soát của người gác cổng, tạo điều kiện cho quá trình phiên mã diễn ra.
- Gene lacI – Người gác cổng: Mang thông tin mã hóa protein ức chế, kiểm soát hoạt động của operon.
- Vùng vận hành O – Cổng kiểm soát: Nơi protein ức chế có thể liên kết để ngăn cản quá trình phiên mã.
- Vùng khởi động P – Điểm xuất phát: Nơi RNA polymerase nhận biết và khởi đầu quá trình phiên mã.
- Các gene cấu trúc lacZ, lacY, lacA – Dây chuyền sản xuất: Đảm nhiệm việc tạo ra các sản phẩm protein phục vụ quá trình chuyển hóa lactose.
Thông qua hình tượng này, học sinh không chỉ nhận diện được tên gọi, vị trí của các thành phần mà còn hiểu được mối quan hệ tương tác giữa chúng trong quá trình điều hòa hoạt động gene.
Từ hình ảnh ẩn dụ đến tư duy phân tích các dạng đột biến
Điểm đặc sắc hơn cả là thầy đã vận dụng chính hình ảnh khu công nghiệp để giải thích những tình huống đột biến gene và hậu quả đối với hoạt động của operon lac.
Những tình huống tưởng chừng phức tạp được chuyển thành các sự cố trong nhà máy, giúp học sinh dễ hình dung và suy luận:
- lacI⁻ – Mất người gác cổng: Không tạo được protein ức chế có chức năng bình thường, dẫn đến operon có xu hướng hoạt động thường xuyên.
- Oᶜ – Cổng kiểm soát bị hỏng: Protein ức chế không thể liên kết với vùng vận hành bị đột biến, operon có xu hướng hoạt động thường xuyên.
- P⁻ – Mất điểm xuất phát: RNA polymerase không thể khởi đầu phiên mã bình thường, các gene cấu trúc không được phiên mã.
- lacZ⁻, lacY⁻, lacA⁻ – Dây chuyền sản xuất gặp sự cố: Quá trình điều hòa có thể vẫn diễn ra nhưng sản phẩm protein tương ứng bị mất hoặc mất chức năng.
Từ đó, học sinh có thể ghi nhớ bản chất của các dạng đột biến bằng những hình ảnh ngắn gọn, dễ hiểu:
- Mất người gác cổng – Operon không còn bị ức chế theo cơ chế bình thường.
- Hỏng cổng kiểm soát – Protein ức chế không thể thực hiện chức năng tại vùng vận hành.
- Mất điểm xuất phát – Không khởi đầu được quá trình phiên mã.
- Hỏng dây chuyền sản xuất – Gene có thể được phiên mã nhưng sản phẩm protein không thực hiện được chức năng bình thường.
Đây là cách tiếp cận giúp học sinh chuyển từ ghi nhớ máy móc sang hiểu bản chất, từ nhận biết từng thành phần sang phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng.
Không dừng lại ở việc minh họa kiến thức, thầy còn chia sẻ phương pháp phân dạng các chủng vi khuẩn mang đột biến ở những thành phần khác nhau của operon lac. Cách phân dạng các chủng vi khuẩn đột biến dưới dạng các kí hiệu như R-P+O+Z+Y+A+ , R+P-O+Z+Y+A+ , R+P+O-Z+Y+A+ , R+P+O+Z-Y+A+… Thông qua việc sử dụng hình ảnh trực quan, bảng phân loại và lời giải chi tiết, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh nhận diện vị trí đột biến, xác định thành phần bị ảnh hưởng, phân tích khả năng phiên mã và dự đoán hoạt động của operon trong những điều kiện môi trường khác nhau.
Đặc biệt, việc phân tích các dạng đột biến kết hợp giữa gene điều hòa, vùng khởi động, vùng vận hành và các gene cấu trúc giúp học sinh hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa các thành phần trong hệ thống điều hòa gene. Học sinh được rèn luyện cách đọc kí hiệu, phân tích dữ kiện, thiết lập mối quan hệ logic và đưa ra kết luận có căn cứ khoa học. Đây chính là những năng lực quan trọng trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi và giải quyết các câu hỏi có tính phân hóa cao.
Sinh hoạt chuyên môn – Không chỉ là chia sẻ kiến thức mà còn là lan tỏa những giá trị nghề nghiệp
Những nội dung được thầy Phan Quốc Anh chia sẻ đã góp phần làm phong phú thêm hoạt động sinh hoạt chuyên môn của Tổ Hóa – Sinh. Giá trị của chuyên đề không chỉ nằm ở một tập tài liệu hay một phương pháp giảng dạy mới, mà còn ở tinh thần chủ động nghiên cứu, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, cùng đồng nghiệp tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn giảng dạy.
.png)
Qua buổi làm việc, chúng ta càng nhận thức rõ hơn rằng: Bài học “Điều hòa biểu hiện gene” nói riêng và chương trình Sinh học 12 nói chung đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ từ tư duy người thầy. Bằng sự đoàn kết, tinh thần sáng tạo trong sinh hoạt chuyên môn của nhóm Sinh học, kết hợp với việc ứng dụng linh hoạt các phương pháp tích cực và công nghệ AI, chúng tôi tin tưởng việc xây dựng và chia sẻ học liệu có hệ thống giúp mỗi giáo viên có thêm cơ hội tự học, tự bồi dưỡng, cập nhật kiến thức khoa học, đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động học tập và nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số.
Đây cũng là hướng đi cần được duy trì và phát triển trong sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học: mỗi giáo viên không chỉ mang đến một tiết dạy mà còn mang đến những ý tưởng, giải pháp, học liệu và kinh nghiệm thực tiễn để cùng nhau hoàn thiện chất lượng giáo dục, từ một bài học khó đến một cách tiếp cận dễ hiểu; từ những kí hiệu khoa học trừu tượng đến hình ảnh trực quan giàu tính tư duy; từ kinh nghiệm cá nhân đến nguồn học liệu dùng chung – đó chính là giá trị thiết thực của sinh hoạt chuyên môn nhằm cao chất lượng giáo dục mũi nhọn trong các trường cụm thi đua số 5.
Với tinh thần trách nhiệm, sự tâm huyết và ý thức đổi mới không ngừng, Tổ Hóa – Sinh, Trường THPT Trưng Vương tiếp tục hướng tới xây dựng môi trường sinh hoạt chuyên môn thực chất, nơi tri thức được chia sẻ, kinh nghiệm được lan tỏa, mỗi giáo viên không ngừng trưởng thành và chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao.
Như Quỳnh, ngày 30 tháng 10 năm 2026
NGƯỜI THỰC HIỆN
Nhóm Sinh học - Trường THPT Trưng Vương
